Tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi có đột biến T790M để điều trị thuốc Tagrix
Tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi có đột biến T790M để điều trị thuốc Tagrix
Thuốc Tagrix (Osimertinib) là một chất ức chế tyrosine kinase (TKI) qua đường uống, hoạt
động ở hệ thần kinh trung ương để điều trị NSCLC tiên tiến dương tính với EGFR
T790M. Ở đây chúng tôi đã đánh giá tần số đột biến của EGFR trong hai nghiên cứu
pha II về Thuốc Tagrix (Osimertinib) osimertinib (mở rộng AURA và AURA2).
PHƯƠNG PHÁP:
Sau khi tiến triển trong khi nhận được liệu pháp mới nhất,
các bệnh nhân mắc NSCLC tiên tiến dương tính với đột biến gen EGFR đã cung cấp
các mẫu khối u để xét nghiệm T790M trung tâm bắt buộc cho các tiêu chí lựa chọn
nghiên cứu. Phân tích đột biến mô khối u để lựa chọn bệnh nhân được thực hiện với
Roche cobas EGFR Đột biến (chẩn đoán in vitro của Châu Âu, chỉ sử dụng nghiên cứu
có nhãn) (Hệ thống phân tử Roche, Pleasanton, CA). Bệnh nhân không nên được sàng
lọc trước tình trạng đột biến T790M. Các kết quả thử nghiệm cobas được so sánh
với các hệ thống giải trình tự thế hệ tiếp theo của MiSeq (Illumina, San Diego,
CA), được sử dụng làm phương pháp tham khảo.
CÁC KẾT QUẢ:
Các mẫu từ 324 và 373 bệnh nhân được sàng lọc mở rộng AURA
và AURA2, tương ứng, tạo ra kết quả xét nghiệm cobas hợp lệ. Tỷ lệ phát hiện
T790M tương tự giữa phần mở rộng AURA và AURA2 (tương ứng 64% và 63%). Tỷ lệ
T790M gộp lại là 63%, không có sự khác biệt theo sắc tộc (63% đối với bệnh nhân
châu Á và không phải người châu Á) hoặc điều trị ngay lập tức bằng EGFR TKI
(afatinib, 69%; erlotinib, 69%; và gefitinib, 63%) . Một tỷ lệ cao hơn của bệnh
nhân đã được phát hiện T790M dựa trên nền tảng của 19 lần xóa exon so với đột
biến L858R (73% so với 58% [p = 0,0002]). Trong cả hai thử nghiệm, thử nghiệm
cobas đã chứng minh độ nhạy cao (thỏa thuận phần trăm dương) và độ đặc hiệu (thỏa
thuận phần trăm âm) cho phát hiện T790M khi so sánh với phương pháp tham chiếu
trình tự thế hệ tiếp theo:
KẾT LUẬN:
Trong cả hai thử nghiệm, tỷ lệ phát hiện đột biến T790M ở bệnh
nhân mắc NSCLC tiên tiến là khoảng 63% và không bị ảnh hưởng bởi điều trị ngay
lập tức trước khi điều trị bằng EGFR TKI hoặc dân tộc.
Mối liên quan giữa kiểu gen huyết tương và kết quả điều trị với Thuốc Tagrix Osimertinib (AZD9291) trong ung thư phổi không tế bào nhỏ tiến triển.
Oxnard GR 1
, Thress KS 2 , Alden RS 2 , Lawrance R 2 , Paweletz CP 2 , Cantarini M 2 ,
Yang JC 2 , Barrett JC 2 , Jänne PA 2 .
MỤC ĐÍCH:
Các chất ức
chế tyrosine kinase (TKIs) thế hệ thứ ba (EGFR) đã chứng minh hoạt động mạnh mẽ
chống lại kháng TKI qua trung gian bởi EGFR T790M. Chúng tôi đã nghiên cứu xem
kiểu gen không xâm lấn của DNA huyết tương không có tế bào (cfDNA) có phải là một
dấu ấn sinh học hữu ích để dự đoán kết quả từ một loại EGFR-TKI thế hệ thứ ba,
osimertinib.
PHƯƠNG
PHÁP:
Huyết tương
được thu thập từ tất cả các bệnh nhân trong nghiên cứu đầu tiên về osimertinib.
Những bệnh nhân được đưa vào đã mắc phải tình trạng kháng EGFR-TKI và bằng chứng
về một đột biến nhạy cảm với EGFR thông thường. Kiểu gen của DNA huyết tương
không có tế bào được thực hiện bằng cách sử dụng BEAMing. Độ chính xác của kiểu
gen huyết tương được đánh giá bằng cách sử dụng kiểu gen khối u từ phòng thí
nghiệm trung tâm làm tài liệu tham khảo. Tỷ lệ đáp ứng khách quan (ORR) và tỷ lệ
sống không tiến triển (PFS) đã được phân tích ở tất cả các bệnh nhân âm tính với
T790M hoặc T790M.
CÁC KẾT QUẢ:
Độ nhạy của
kiểu gen huyết tương để phát hiện T790M là 70%. Trong số 58 bệnh nhân có khối u
âm tính T790M, T790M được phát hiện trong huyết tương là 18 (31%). ORR và PFS
trung vị tương tự ở những bệnh nhân có kết quả huyết tương dương tính với T790M
(ORR, 63%; PFS, 9,7 tháng) hoặc khối u dương tính T790M (ORR, 62%; PFS, 9,7
tháng). Mặc dù bệnh nhân có huyết tương âm tính T790M có kết quả thuận lợi
chung (ORR, 46%; PFS trung bình, 8.2 tháng), kiểu gen khối u phân biệt một tập
hợp bệnh nhân dương tính với T790M có kết quả tốt hơn (ORR, 69%; PFS, 16.5 tháng)
như cũng như một tập hợp bệnh nhân âm tính với T790M với kết quả kém (ORR, 25%;
PFS, 2,8 tháng).
PHẦN KẾT LUẬN:
Trong phân
tích hồi cứu này, bệnh nhân dương tính với T790M trong huyết tương có kết quả với
osimertinib tương đương với bệnh nhân dương tính với xét nghiệm dựa trên mô.
Nghiên cứu này cho thấy rằng, khi có sẵn các xét nghiệm T790M trong huyết tương
đã được kiểm chứng, một số bệnh nhân có thể tránh được sinh thiết khối u cho kiểu
gen T790M. Do tỷ lệ kiểu gen huyết tương âm tính 30%, những người có kết quả
huyết tương âm tính T790M vẫn cần sinh thiết khối u để xác định sự hiện diện
hay vắng mặt của T790M.

Nhận xét
Đăng nhận xét